Chế độ tai nạn ở Việt Nam - nhìn từ cơ sở lý luận

Thứ tư - 27/03/2013 10:52 2.546 0
Theo Luật BHXH hiện hành, chế độ tai nạn lao động ở nước ta là một trong hai nội dung của chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN). Nội dung này hiện nay đang có nhiều khó khăn vướng mắc cả về mặt lý luận và thực tế cần phải được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện...
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Những vấn đề lý luận về tai nạn lao động


      Trước hết, cần phải làm rõ những nội dung chính về TNLĐ: Khái niệm về TNLĐ, nội dung của TNLĐ là gì, những loại tai nạn rủi ro nào được coi là TNLĐ để được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH. Đây là những nội dung đang còn có nhiều ý kiến khác nhau ở trong nước và ở nhiều nước trên thế giới. Để có được một chính sách đúng đối với người bị TNLĐ, mỗi quốc gia có những cách tiếp cận riêng và có những quy định khác nhau về TNLĐ (kể cả khái niệm và nội dung). Ban đầu TNLĐ chỉ được hiểu là "Một sự việc không bình thường, không mong muốn xảy ra" trong qua trình sản xuất. Khi nền công nghiệp phát triển, nhất là các ngành công nghiệp khai khoáng, hầm mỏ, TNLĐ xảy ra thường xuyên hơn và chủ sử dụng lao động phải có trách nhiệm ràng buộc chặt chẽ hơn với những TNLĐ của người công nhân, thì khái niệm TNLĐ được hoàn thiện hơn. Đến nay, mặc dù vẫn còn có những nhận thức khác nhau về TNLĐ, nhưng các quốc gia nói chung đã thống nhất "Tai nạn lao động là những tai nạn bất ngờ xảy ra trong quá trình lao động, gây chết người hoặc làm tổn thương hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể con người".

Từ khái niệm này, có thể khái quát TNLĐ có ba đặc trưng cơ bản sau đây:
    - Thứ nhất, những tai nạn được gọi là TNLĐ phải xảy ra bất ngờ, con người không thể lường trước được (không biết được chính xác về thời gian và không gian).
    - Thứ hai, gọi là TNLĐ khi và chỉ khi gắn với quá trình làm việc của người lao động, trong một khoảng thời gian và không gian cụ thể (nghĩa là được quy định chính xác ở đâu và khi nào?).
   - Thứ ba, tai nạn này phải để lại hậu quả hoặc là chết người hoặc làm tổn thương, hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể người lao động.
Những tai nạn rủi ro nào mang đầy đủ ba đặc trưng trên đây được coi là TNLĐ và được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH. Ngoài ba đặc trưng chính trên đây, vấn đề TNLĐ thường rất phức tạp vì liên quan đến bồi thường, nên dần dần nội dung tai nạn lao động được mở rộng thêm cho những loại tai nạn rủi ro khác cũng được coi là TNLĐ.
    - Tai nạn trên đường đi: Đây là những tai nạn xảy ra trên đường từ nơi cư trú đến nơi làm việc mà người lao động thường xuyên đi về; tai nạn xảy ra từ nơi làm việc đến nơi thường xuyên đi ăn cơm theo ca; từ nơi làm việc đến nơi thường xuyên lĩnh tiền lương của mình...
   - Tai nạn xảy ra trên đường người lao động đi công tác hoặc xảy ra trong thời gian người lao động ở nơi công tác theo yêu cầu của người sử dụng lao động (ngoài nơi làm việc thường xuyên của người lao động).
   - Tai nạn xảy ra khi người lao động đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cá nhân theo quy định của luật pháp hoặc doanh nghiệp cho phép, như: nghỉ giải lao, tắm sau ca, vệ sinh...
Những trường hợp trên theo quy định của Công ước 121 năm 1964 của ILO cũng được coi là tai nạn lao động và được hưởng trợ cấp TNLĐ.

      Ở Việt Nam, theo Điều 105 Bộ luật lao động quy định: Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Chúng tôi cho rằng, khái niệm này rất chặt chẽ, thể hiện đầy đủ ba đặc trưng của khái niệm TNLĐ. Tuy nhiên trong thực tế tổ chức thực hiện Luật BHXH, cũng còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Cách hiểu khác nhau được tập trung chủ yếu vào hai nội dung sau đây:

    - TNLĐ có bao gồm tất cả những tai nạn giao thông hay không? Vì trên thực tế, người lao động trên đường từ nhà đến nơi làm việc và trên đường đi về nhà có rất nhiều trường hợp còn kết hợp với việc đi chợ, đưa đón con, thăm người thân… nếu xảy ra tai nạn thì có được coi là TNLĐ hay không, hồ sơ thủ tục giải quyết chế độ người bị TNGT được coi là TNLĐ như thế nào cho phù hợp để quỹ BHXH chi trả trợ cấp đúng người, đúng vụ việc  và bảo đảm quyền lợi người lao động.

    - TNLĐ gắn liền với công việc, nhiệm vụ lao động: cách hiểu khác nhau về nội dung này chủ yếu tập trung vào những nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động, như: uống rượu say, đánh nhau, đùa nhau, đi chơi lang thang trong doanh nghiệp, vô ý thức, vô kỷ luật trong lao động… những tai nạn đó có được coi là TNLĐ hay không?

       Sở dĩ còn có những ý kiến khác nhau về nội dung của khái niệm TNLĐ là do khái niệm TNLĐ trong Bộ Luật Lao động chưa thể hiện được hai nội dung hiểu khác nhau này. Các văn bản dưới luật cũng chưa cụ thể hơn khái niệm trong Bộ Luật.
Kinh nghiệm ở các nước như: Cộng hòa Liên bang Đức, Thái Lan, Philippines… quy định rất rõ ràng, những tai nạn nào được coi là TNLĐ và được hưởng trợ cấp TNLĐ và những tai nạn không được coi là TNLĐ.

      Đối với nước ta hiện nay, vì chưa có văn bản nào quy định rõ các tai nạn nào được coi là TNLĐ, nên hầu hết các trường hợp bị TNLĐ đều được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH, không phân biệt nguyên nhân. Đây là vấn đề lớn cả về mặt lý luận và thực tế cần phải được nghiên cứu hoàn thiện.

     Theo chúng tôi, để phân biệt TNLĐ với tai nạn rủi ro là ở chỗ tai nạn đó có gắn với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ của người lao động (bị tai nạn) hay không. Chỉ được coi là TNLĐ khi tai nạn đó xảy ra trong quá trình người lao động thực hiện các nghĩa vụ lao động được pháp luật quy định và phù hợp với nội quy, quy chế của đơn vị sử dụng lao động hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên trong thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động… Còn những trường hợp khác phải được coi là tai nạn rủi ro và áp dụng chế độ bảo hiểm ốm đau để giải quyết quyền lợi cho người lao động.

      Xét về nguyên nhân xảy ra TNLĐ; có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do công tác an toàn lao động không được thực hiện tốt. Sự cố công nghệ như nổ nồi hơi, bình nén khí, bình sinh khí axetylen, thiết bị nâng không đảm bảo an toàn…; vị trí, tư thế lao động gò bó; trình độ lao động thấp, ý thức kỷ luật lao động kém, tâm lý lao động không ổn định… đều là những nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến TNLĐ. Khi xét các trường hợp bị TNLĐ phải xem xét cụ thể từng nguyên nhân. Những nguyên nhân như uống rượu say, đánh nhau, đùa nhau, đi chơi lang thang trong doanh nghiệp… mà bị tai nạn thì nhất thiết không được coi là TNLĐ và không được hưởng trợ cấp TNLĐ. Những trường hợp tai nạn này nên chuyển sang hưởng chế độ tử tuất nếu bị chết.

      Đến nay loài người đã tìm mọi biện pháp cải thiện điều kiện lao động, nhưng chỉ có thể hạn chế được TNLĐ, giảm tối thiểu những hậu quả do TNLĐ gây ra, chứ chưa có những biện pháp ngăn chặn tuyệt đối không để xảy ra TNLĐ. Vì vậy, TNLĐ được coi là hiện tượng mang tính phổ biến xảy ra ở tất cả các ngành nghề, ở tất cả các quốc gia, chứ không phải là hiện tượng cá biệt của một quốc gia nào. Ngăn chặn, hạn chế TNLĐ đã trở thành vấn đề có tính chất toàn cầu.  Đối với nước ta cũng không nằm ngoài tính phổ biến đó. Vấn đề là phải phân biệt tai nạn đó ở đâu, khi nào và nguyên nhân của những tai nạn đó để có chế độ bồi thường đúng người, đúng vụ việc.

Những vấn đề lý luận về chế độ tai nạn lao động

      
Hiểu theo nghĩa rộng, chế độ TNLĐ là chế độ BHXH nhằm bù đắp các chi phí chữa trị, bù đắp hoặc thay thế thu nhập của người lao động do bị giảm hoặc bị mất khả năng lao động mà nguyên nhân do TNLĐ.

      Theo nghĩa này, chế độ TNLĐ của người lao động không chỉ được bảo đảm từ nguồn quỹ BHXH mà người lao động còn phải được thanh toán các khoản chi phí liên quan đến việc chữa trị ban đầu và đảm bảo cuộc sống trong thời gian điều trị, như viện phí, tiền lương... Hiện nay, các khoản tiền này do chủ sử dụng lao động chi trả cho người lao động.

      Theo nghĩa hẹp, chế độ TNLĐ là chế độ BHXH do quỹ BHXH chi trả cho những người tham gia BHXH bị TNLĐ, nhằm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động do bị suy giảm hoặc mất khả năng lao động mà nguyên nhân do TNLĐ.
Như vậy theo nghĩa hẹp, chế độ TNLĐ của người lao động được đảm bảo từ nguồn quỹ BHXH, không bao gồm các khoản chi phí trực tiếp trong thời gian điều trị ban đầu do người sử dụng lao động thanh toán.

      Theo chúng tôi, chế độ TNLĐ được hiểu theo nghĩa rộng là phản ánh đầy đủ nhất, đúng nhất cả về mặt ý nghĩa và nội dung của nó. Bởi vì, trong thời gian người lao động phải nghỉ việc điều trị ban đầu do TNLĐ không những bị mất thu nhập từ lao động mà còn phải chịu một loạt các chi phí y tế phát sinh trong thời gian điều trị ở bệnh viện... ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của bản thân và gia đình. Các chi phí đó đều mang bản chất và nội dung của BHXH. Đó là các khoản chi phí phát sinh do hậu quả của TNLĐ gây ra đối với người lao động có tham gia BHXH. Vì vậy, về lâu dài các khoản chi phí này cần phải được tập trung vào một đầu mối do cơ quan chuyên môn là BHXH chi trả là hợp lý nhất.

      Hiện nay, những chi phí trong giai đoạn điều trị ban đầu, Nhà nước giao cho chủ sử dụng lao động chịu trách nhiệm chi trả. Trách nhiệm đó chỉ có ý nghĩa trợ giúp trực tiếp của người sử dụng lao động đối với người lao động của mình, chưa mang ý nghĩa và nội dung của bảo hiểm. Tất nhiên, việc trợ giúp trực tiếp các khoản chi phí ban đầu của người sử dụng lao động cho người lao động bị TNLĐ rất có ý nghĩa đối với những người lao động chưa tham gia BHXH.

Cơ sở hình thành chế độ tai nạn lao động
Chính sách chế độ BHXH nói chung và chế độ TNLĐ nói riêng được hình thành dựa trên những cơ sở sau đây:

Cơ sở sinh học:
Cơ sở sinh học là một trong những căn cứ quan trọng để xác lập mối tương quan đóng - hưởng trong chính sách BHXH nói chung và chế độ TNLĐ nói riêng. Chính sách chế độ TNLĐ được xây dựng và tổ chức thực hiện cũng phải căn cứ vào cơ sở sinh học, vì giới tính của người lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ gặp rủi ro TNLĐ. Thực tế cho thấy, TNLĐ thường xảy ra đối với nam nhiều hơn nữ vì họ thường phải làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hơn. Cơ sở sinh học còn liên quan đến tuổi đời của người lao động, tuổi đời khác nhau thì khả năng gặp rủi ro TNLĐ khác nhau. Đối với những người có tuổi đời và tuổi nghề thấp thường có ít kinh nghiệm, chủ quan nên dễ gặp phải TNLĐ. Nghiên cứu cơ sở sinh học nhằm tìm ra các giải pháp trong việc phòng ngừa các TNLĐ xảy ra, đồng thời có các chính sách BHXH đúng đắn đối với người lao động ở các độ tuổi khác nhau và giới tính khác nhau.

 Môi trường và điều kiện vệ sinh, an toàn lao động
Khi xây dựng hoặc sửa đổi bổ sung chế độ TNLĐ cũng phải xuất phát từ điều kiện lao động và môi trường lao động để làm căn cứ xác lập mức đóng, mức hưởng của chế độ TNLĐ.
Điều kiện và môi trường làm việc của người lao động bao gồm: Nhà xưởng làm việc, hệ thống chống bụi, khí độc, hệ thống thông gió, chống ẩm, chống ồn, rung...; điều kiện về công cụ lao động như: máy móc thiết bị, công cụ sản xuất; điều kiện về nguyên, nhiên vật liệu phát sinh ra bụi, chứa hóa chất độc, chứa vi sinh vật gây hại, dễ gây chấn thương do va đập, dễ gây cháy nổ, dễ gây bỏng... Các điều kiện về vệ sinh an toàn lao động như các tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình kỹ thuật an toàn, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động; công tác huấn luyện an toàn lao động...

Môi trường làm việc và điều kiện vệ sinh, an toàn lao động là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hầu hết các vụ TNLĐ đối với người lao động. Vì vậy, khi xây dựng chế độ TNLĐ phải căn cứ vào điều kiện vệ sinh, an toàn lao động và môi trường làm việc để quy định mức đóng và hưởng. Những ngành nghề có môi trường làm việc và điều kiện vệ sinh an toàn lao động tốt, ít xảy ra TNLĐ thì nên có tỷ lệ đóng phí bảo hiểm TNLĐ thấp hơn những ngành nghề có môi trường làm việc và điều kiện vệ sinh an toàn lao động không tốt, để xảy ra TNLĐ nhiều.
Ở nhiều nước trên thế giới, tỷ lệ đóng phí bảo hiểm TNLĐ được phân theo ngành kinh tế căn cứ vào mức độ xảy ra TNLĐ hàng năm. Ví dụ: Ở Cộng hòa Liên bang Đức, phí đóng bảo hiểm TNLĐ được phân theo ngành kinh tế có tỷ lệ từ 0,4%-31,9%, trong đó tỷ lệ cao nhất là 31,9% đối với công nghiệp khai thác gỗ, thấp nhất là 0,4% đối với ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm có mức trung bình là 1,49%. Ở Thái Lan, người sử dụng lao động đóng vào quỹ TNLĐ-BNN với tỷ lệ từ 0,2-2% tiền lương hàng tháng của người lao động. Tỷ lệ đóng góp dựa trên cơ sở phân loại doanh nghiệp (dựa vào đánh giá nguy cơ gây TNLĐ- BNN; tần suất xảy ra TNLĐ- BNN hàng năm của doanh nghiệp) và được định kỳ xem xét, thay đổi căn cứ vào thực thanh, thực chi của từng doanh nghiệp.
Ở nước ta, nội dung này đã và đang được các cơ quan chức năng nghiên cứu để áp dụng vào thực tế. Song đến nay, chế độ TNLĐ ở nước ta nói chung vẫn chưa áp dụng nội dung này vào thực tế. Mức phí đóng TNLĐ vẫn quy định chung cho tất cả các ngành kinh tế, không phân biệt ngành đó có tỷ lệ TNLĐ cao hay thấp. Đây là vấn đề không hợp lý cần phải được nghiên cứu, sửa đổi cho phù hợp.
 

 Điều kiện kinh tế-xã hội
Vấn đề cốt lõi nhất của mối quan hệ này là xây dựng mức đóng - hưởng các chế độ BHXH nói chung và chế độ TNLĐ nói riêng phải phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế xã hội của đất nước. Khi nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả,  có lãi và tích luỹ để tái sản xuất, thì doanh nghiệp mới có điều kiện thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước đầy đủ và đóng đủ BHXH theo quy định. Theo kinh nghiệm các nước, trình độ phát triển BHXH của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó. Một quốc gia có hệ thống BHXH phát triển là quốc gia đó phải có nền kinh tế phát triển, phải có GDP bình quân đầu người tương đối cao. Nền kinh tế càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người càng được nâng cao, thì khi đó Nhà nước mới có điều kiện nâng mức đóng và mức hưởng BHXH và ngược lại. Đó là mối quan hệ mang tính quy luật phải được vận dụng vào việc xây dựng chính sách chế độ BHXH nói chung và chế độ TNLĐ nói riêng ở nước ta.

 Điều kiện lịch sử
Đây là điều kiện mang tính phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Đối với nước ta, chính sách chế độ BHXH nói chung và chế độ TNLĐ nói riêng từ khi thành lập nước đến nay cũng mang tính lịch sử rõ nét qua từng thời kỳ. Vì vậy khi xây dựng, hoặc sửa đổi bổ sung chế độ TNLĐ cũng phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng thời kỳ, đồng thời chế độ TNLĐ trong từng thời kỳ cũng phải góp phần phục vụ các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ lịch sử đó. Chế độ TNLĐ được xây dựng ở từng thời kỳ còn phải đảm bảo tính kế thừa để phát huy nhũng mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực, nhằm từng bước hoàn thiện chế độ TNLĐ ở nước ta, phù hợp với điều kiện lịch sử của đất nước trong từng thời kỳ và phù hợp với thông lệ quốc tế./.

Nguồn tin: BHXH Đà Nẵng

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây